| | Octopus Render

Bài viết


Bài 1 trang 23 SGK Địa lí 11



Lời giải chi tiết:


Biện pháp:
- Khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên.
- Áp dụng các biện pháp thủy lợi để hạn chế khô hạn.


Bài 2 trang 23 SGK Địa lí 11
Đề bài
Dựa vào bảng dưới đây, nhận xét về sự thay đổi tỉ lệ dân số châu Phi so với các châu lục khác.
Tỉ lệ dân số các châu lục trên thế giới qua một số năm
(Đơn vị:%)
Lời giải chi tiết
Giai đoạn 1985 -2005:
- Tỉ lệ dân số châu Phi tăng nhanh nhất và liên tục, từ 11,5% lên 13,8% (tăng 2,3%).
- Tỉ lệ dân số châu Mĩ, châu Á tăng nhẹ từ 13,4% lên 13,7% (tăng 0,4%) và  60,0% lên 60,6% (tăng 0,6%).
- Tỉ lệ dân số châu Âu giảm nhanh và liên tục, từ 14,6% xuống 11,4% (giảm 3,2%).
- Châu Đại Dương có tỉ lệ dân số thấp nhất và không thay đổi (0,5%).
⟹ Châu Phi có quy mô và tốc độ tăng dân số nhanh nhất thế giới.


Bài 3 trang 23 SGK Địa lí 11
Đề bài
Hãy phân tích tác động của những vấn đề dân cư xã hội châu Phi tới sự phát triển kinh tế của châu lục này.
Lời giải chi tiết
- Dân số đông và tốc độ tăng  dân số cao đã gây nhiều sức ép về vấn đề xã hội của châu Phi:
+ Đói nghèo: vấn đề đảm bảo an ninh lương thực gặp nhiều khó khăn trong khi điều kiện canh tác nông nghiệp hạn chế .
+ Vấn đề nhà ở, y tế giáo dục gặp nhiều khó khăn: chất lượng đời sống nhân dân còn thấp, nhiều khu nhà ổ chuột, dịch bệnh tràn lan, đe dọa cuộc sống của hàng trăm triệu người dân châu Phi.
+ Gây sức ép về vấn đề giải quyết việc làm.
+ Kìm hãm sự phát triển kinh tế.
- Trình độ dân trí thấp, còn nhiều hủ tục.
- Các cuộc xung đột tại Bờ Biển Ngà, Công –gô, Xu-đăng, Xô-man-li…cướp đi sinh mạng của hàng triệu người.




II. Nội dung chính: 
1. Tự do hoá thương mại 
- Cơ hội: Mở rộng thị trường, thúc đẩy sản xuất phát triển. 
- Thách thức: Trở thành thị trường tiêu thụ cho các cường quốc kinh tế. 


2. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 
- Cơ hội: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức. 
- Thách thức: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển kinh tế. 

3. Sự áp đặt nối sống, văn hoá của các siêu cường 
- Cơ hội: Tiếp thu các tinh hoa văn hoá của nhân loại. 
- Thách thức: Giá trị đạo đức biến đổi theo hướng xấu, ônhiễm xã hội, đánh mất bản sắc dân tộc. 

4. Chuyển giao công nghệ vì lợi nhuận 
- Cơ hội: Tiếp nhận đầu tư, công nghệ, hiện đại hoá cơ sở vật chất kĩ thuật. 
- Thách thức: Trở thành bãi thải công nghệ lạc hậu cho các nước phát triển. 

5. Toàn cầu hoá trong công nghệ 
- Cơ hội: Đi tắt, đón đầu từ đó có thể đuổi kịp và vựt các nước phát triển. 
- Thách thức: Gia tăng nhanh chóng nợ nước ngoài, nguy cơ tụt hậu. 

6. Chuyển giao mọi thành tựu của nhân loại 
- Cơ hội: Thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh hơn, hoà nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới. 
- Thách thức: Sự cạnh tranh quyết liệt. 

7. Sự đa dạng hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế 
- Cơ hội: Tận dụng tiềm năng thế mạnh toàn cầu để phát triển kinh tế đất nước. 
- Thách thức: Chảy máu chất xám, gia tăng tốc độ cạn kiệt tài nguyên. 

* Tổng kết: 
- Cơ hội: 
+ Khắc phục các khó khăn, hạn chế về vốn, cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ. 
+ Tận dụng các tiềm năng của toàn cầu để phát triển nền kinh tế xã hội đất nước. 
+ Gia tăng tốc độ phát triển. 

- Thách thức: 
+ Chịu sự cạnh tranh quyết liệt hơn. 
+ Chịu nhiều thua thiệt, rũi ro: tụt hậu, nợ nhiều, ô nhiễm, mất quyền tự chủ nền kinh tế…

II. Viết báo cáo

"Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển"
    Toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới, làm cho các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thế giới. Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, toàn cầu hóa cũng mang lại nhiều cơ hội và thách thức.
    Về cơ hội, trước hết toàn cầu hóa thúc đẩy tự do hóa thương mại và sự phát triển sản xuất. Việt Nam gia nhập ASEAN và WTO đã mở ra nhiều thị trường mới và đẩy mạnh ngoại thương phát triển.
    Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ giúp các nước đang phát triển nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, hoàn thành công nghiệp hóa. Là cơ hội để các nước nhanh chóng đón đầu công nghệ hiện đại, chuyển giao thành tựu mới về khoa học công nghệ, kinh nghiệm tổ chức và quản lí, tận dụng các tiềm năng của toàn cầu để phát triển KTXH đất nước. Các quốc gia đang phát triển như Hàn Quốc, Sin-ga-po…đã trở thành nước công nghiệp mới (NICs) nhờ sớm tận dụng cơ hội của xu thế toàn cầu hóa.
    Bên cạnh mặt kinh tế, toàn cầu hóa còn là cơ hội để các quôc gia quảng bá văn hóa đất nước và tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự hợp tác liên kết để bảo vệ môi trường chung. Dự án hợp tác “Tiểu vùng sông Mê Công” là sự hơp tác về mọi mặt giữa Việt Nam va các nước trên tất cả các mặt từ kinh tế đến văn hóa xã hội và bảo vệ môi trường. Chương trình giao lưu văn hóa Việt - Hàn, Lễ hội Hoa anh đào… được tổ chức đều đặn hằng năm.
    Toàn cầu hóa cũng đem lại nhiều thách thức không thể tránh khỏi. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt của các nước khi gia nhập vào thị trường chung thế giới, là nguy cơ tụt hậu và rủi ro cao trong quá trình phát triển. Sự mở rộng đầu tư và tiếp nhận thành tựu khoa học công nghệ cũng gia tăng các nguồn nợ nước nước ngoài, ô nhiễm môi trường, chảy máu chất xám, cạn kiệt tài nguyên. Theo thứ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư, thống kê cho thấy ở Việt Nam năm 2013 có trên 80% doanh nghiệp HDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 5 -6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc hậu.
    Về văn hóa, các giá trị đạo đức dễ bị suy thoái, du nhập nhiều lối sống xa hoa, thái quá của phương Tây ở một bộ phận giới trẻ hiện nay.


Chương 1: Phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng

Bài 5: Phép quay

Bài 1 (trang 19 SGK Hình học 11): Cho hình vuông ABCD tâm O.

a. Tìm ảnh của điểm C qua phép quay tâm A góc 90o.

b. Tìm ảnh của đường thẳng BC qua phép quay tâm O góc 90o
Lời giải:
a. Gọi C’ là điểm đối xứng với điểm C qua điểm D.

C’ là ảnh của C trong phép quay Q(A,90o) .
b. Ta có :
OD = OC và góc(OC,OD) = 90o
OC = OB và góc(OB,OC) = 90o
Nên trong phép quay Q(O,90o) thì C → D, B → C => BC → CD.

Bài 2 (trang 19 SGK Hình học 11): Trong mặt phẳng tọa độ Oxy cho điểm A(2; 0) và đường thẳng d có phương trình x + y – 2 = 0. Tìm ảnh của A và d qua phép quay tâm O góc 90o.
Lời giải:
* Ta có A(2; 0) thuộc tia Ox.
Gọi Q(O,90o) (A) = B thì B thuộc tia Oy và OA = OB nên B(0 ; 2)
* Ta thấy tọa độ A, B đều thỏa phương trình x + y – 2 = 0 của đường thẳng d nên A, B thuộc d.
Do Q(O,90o) (A) = B và tương tự Q(O,90o) (B) = C(-2; 0) nên ảnh của d chính là đường thẳng (BC) có phương trình theo đoạn chắn là:


Soạn bài: Luyện tập phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

Câu 1 (trang 205 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Giả định anh (chị) cần phỏng vấn và trả lời phỏng vấn về việc giảng dạy và học tập môn Ngữ văn THPT.

Gợi ý: Cần tiến hành theo các bước
a, Khâu chuẩn bị:
   - Xác định chủ đề của cuộc phỏng vấn.
   - Xác định mục đích công việc.
   - Xác định đối tượng phỏng vấn.
   - Xác định hệ thống câu hỏi và những yêu câu
b, Tiến hành phỏng vấn
   - Người đóng vai trò phỏng vấn tiến hành việc phỏng vấn dựa trên hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn. Trong quá trình phỏng vấn cần chú ý: Lời dẫn dắt vào đề ngắn gọn, tạo không khí vui vẻ, biết cách xử lí linh hoạt. Kết thúc buổi phỏng vấn, người phỏng vấn cám ơn người trả lời phỏng vấn.
   - Người trả lời phỏng vấn tiến hành phỏng vấn trên cơ sở câu hỏi mà người phỏng vấn đã chuẩn bị, đồng thời khi trả lời cần cung cấp đầy đủ thông tin về chủ đề phỏng vấn, nên có những câu trả lời thú vị nhưng tránh lạc đề và cần phải trả lời một cách trung thực.
Câu 2 (trang 206 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Tiến hành phỏng vấn và trả lời phỏng vấn với đề tài: Hỏi chuyện một người bạn đến từ một vùng quê (hoặc từ một quốc gia) khác.
Khi phỏng vấn cần tiến hành đầy đủ theo các bước. Chú ý người phỏng vấn khi đưa ra những câu hỏi cần thể hiện sự quan tâm, gần gũi, lịch sự.
Tham khảo các bài Soạn văn 11 khác:

Học Kì I:

Soạn bài: Ôn tập phần Văn học

Câu 1 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
* Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 hình thành theo hai bộ phận và phân hóa thành nhiều dòng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển. Do đặc điểm của một nước thuộc địa, chịu sự chi phối mạnh mẽ và sâu sắc của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 hình thành hai bộ phận: văn học công khai và văn học không công khai.

   - Bộ phận văn học công khai: là văn học hợp pháp tồn tại trong vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến. Những tác phẩm này có tính dân tộc và tư tưởng lành mạnh nhưng không có ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp với chính quyền thực dân. Phân hóa thành nhiều xu hướng:
       + Xu hướng văn học lãng mạn.
       + Xu hướng văn học hiện thực.
   - Bộ phận văn học không công khai là văn học cách mạng bí mật. Đây là bộ phận của văn học cách mạng và nó trở thành dòng chủ của văn học sau này.
* Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng. Nguyên nhân:
   - Sức sống văn hóa mãnh liệt mà hạt nhân là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, biểu hiện rõ nhất là sự trưởng thành và phát triển của tiếng Việt và văn chương Việt.
   - Sự thức tỉnh ý thức cá nhân của tầng lớp trí thức Tây học.
   - Sự tác động của thời đại: Văn chương lúc này trở thành một thứ hàng hóa, viết văn trở thành một nghề để kiếm sống.
Câu 2 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
a. So sánh tiểu thuyết trung đại và tiểu thuyết hiện đại:
   - Tiểu thuyết trung đại Việt nam thường vay mượn đề tài, cốt truyện của văn học Trung Quốc; tập trung vào việc xây dựng cốt truyện li kì, hấp dẫn; kết cấu theo kiểu chương hồi và theo công thức; kết thúc có hậu; truyện được trần thuật theo trình tự thời gian; nhân vật thường phân tuyết rạch ròi; câu văn theo lối biền ngẫu...
   - Tiểu thuyết hiện đại không theo những lối mòn cũ. Tiểu thuyết hiện đại lấy tính cách nhân vật làm trung tâm, chú trọng tính cách hơn là cốt truyện, đi sâu và thế giới nội tâm nhân vật. Tiểu thuyết trần thuật theo thời gian tự nhiên mà rất linh hoạt; kết thúc thường không có hậu; bỏ những ước lệ, dùng bút pháp tử thực; lời văn tự nhiên, gần với cuộc sống hàng ngày.
b. Trước năm 1930, tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ chưa nhiều. Hồ Biểu Chánh là người đầu tiên khẳng định được chỗ đứng của mình trên lĩnh vực tiểu thuyết, ông để lại hàng chục tác phẩm khắc họa cuộc sống của con người nơi vùng đất Nam Bộ. Tuy nhiên, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh còn mô phỏng cốt truyện từ bên ngoài và chịu ảnh hưởng của văn chương trung đại, chưa thoát khỏi kết cấu chương hồi, cách kết thúc có hậu, nhân vật có tính chất minh họa cho những quan điểm đạo đức... Các đặc điểm này thể hiện rõ trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của ông.
Câu 3 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
   - Tình huống truyện trong tác phẩm Vi hành của tác giả Nguyễn Ái Quốc đó là tình huống nhầm lẫn của đôi trai gái người Pháp trong chuyến tàu điện ngầm: nhìn người An Nam (nhân vật tôi) và cho đó là Khải Định. Nhờ sự nhầm lẫn mà hình ảnh Khải Định được miêu tả vừa rất khách quan lại vừa hài hước.
   - Tình huống truyện trong Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan là mâu thuẫn trào phúng giữa chính quyền thực dân phong kiến với mong ước xin được ở nhà của người dân, giữa việc đi cổ vũ với việc tìm mọi cách chạy chọt để được ở nhà, thậm chí tìm mọi cách trốn tránh. Trên cở sở những mâu thuẫn đó, mỗi cảnh tình riêng lại có những nét hài hước riêng.
   - Trong tình huống truyện Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo: Cuộc kì ngộ của hai con người khác thường:
       + Viên quản ngục – kẻ đại diện cho quyền lực, nhưng lại khát khao cái đẹp, say mê cái đẹp.
       + Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp, chống lại triều đình phong kiến, đại diện cho cái đẹp.
→ Xét trên bình diện xã hội: Họ là những kẻ đối nghịch.
→ Xét trên bình diện nghệ thuật: Họ là tri âm, tri kỉ, yêu cái đẹp.
=> Tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn: Mối quan hệ éo le, đầy trớ trêu giữa hai con người tri âm, tri kỉ.
   - Tình huống truyện trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao là tình huống bi kịch thể hiện mâu thuẫn giữa khát vọng sống lương thiện, khát vọng làm người và tình trạng bị cự tuyệt quyền làm người.
Câu 4 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
* Đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam:
   - Cốt truyện đơn giản, nổi bật ở những dòng tâm trạng trôi chảy, cảm xúc mong manh, mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.
   - Miêu tả tinh tế sự chuyển biến của cảnh vật và tâm trạng con người.
   - Bút pháp tương phản đối lập: vừa đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn.
   - Lối kể chuyện thủ thỉ, tâm tình, thấm đợm chất thơ trữ tình sâu sắc.
* Đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân:
   - Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật được xây dựng bằng bút pháp lí tưởng hóa cảm cảm hứng lãng mạn.
   - Cảnh trong tác phẩm được xây dựng bằng nghệ thuật tương phản, làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa cái đẹp và cái xấu, cái ác và cái thiện, tính cách và hoàn cảnh.
   - Trong truyện đoạn miêu tả cảnh vật và không khí thiêng liêng, cổ kính của cảnh cho chữ. Đoạn văn thể hiện tài năng sắc sảo của Nguyễn Tuân trong việc sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, giàu tính tạo hình, kết hợp với bút pháp đối lập trong tạo dựng cảnh.
* Đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao: Ngôn ngữ trong tác phẩm rất sống động, vừa điêu luyện, nghệ thuật, vừa rất gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Giọng điệu của nhà văn phong phú và biến hóa, có sự đan xen lẫn nhau. Cách trần thuật cũng rất linh hoạt. Nhà văn có khả năng nhập vào các vai, chuyển từ vai này sang vai khác một cách tự nhiên, linh hoạt, gây hấp dẫn cho người đọc. Lúc thì trần thuật theo điểm nhìn của tác giả, lúc thì trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật Chí Phèo, khi lại trần thuật theo điểm nhìn của thị Nở, bá Kiến... Qua đó tạo nên giọng điệu đan xen độc đáo.
Câu 5 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
* Nghệ thuật trào phúng đặc sắc trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia:
   - Nghệ thuật tạo tình huống cơ bản rồi mở ra những tình huống khác.
   - Khai thác và sử dụng triệt để biện pháp nghệ thuật đối lập nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người để làm nổi bật lên tiếng cười.
   - Giọng văn mỉa mai, sử dụng thủ pháp cường điệu, nói quá được sử dụng một cách linh hoạt.
   - Ngòi bút miêu tả sắc sảo: Những nét riêng của từng nhân vật trong đoạn trích.
* Số đỏ là tác phẩm tiêu biểu nhất của Vũ trọng Phụng và được đánh giá là tác phẩm vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam, kể từ khi có chữ quốc ngữ. Thông qua tác phẩm, nhà văn đả kích sâu cay xã hội tư sản thành thị đang chạy theo lối sống nhố nhăng, đồi bại đương thời.
Câu 6 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
   - Mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn giữa nhân dân khốn khổ, lầm than với bọn hôn quân bạo tàn cùng phe cánh của chúng đã được giải quyết dứt khoát theo quan điểm của nhân dân. Bạo chúa Lê Tương Dực bị giết; đại thần Nguyễn Vũ tự sát; đám cung nữ bị những kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ.
=> Vũ Như Tô đã đứng trên quan điểm của nhân dân để giải quyết mâu thuẫn.
   - Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân chưa được tác giả giải quyết một cách dứt khoát. Điều đó được thể hiện trong hồi cuối của vở kịch ở việc Vũ Như Tô cho đến lúc chết vẫn không nhận ra sai lầm của mình, vẫn đinh ninh là mình vô tội. Ông không đứng về phía Lê Tương Dực nhưng ông lại muốn mượn uy quyền và tiền tài của hắn để thực hiện hoài bão và ước mơ của mình, và vì thế vô tình gây nên nỗi khổ cho nhân dân. => Cách giải quyết vấn đề của Vũ Như Tô trong đoạn trích đã phần nào giải quyết được mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nghệ thuật chân chính phải chú ý đến con người, người nghệ sĩ khi làm nghệ thuật phải chú ý đến điều đó.
Câu 7 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Trong Đời thừa Nam Cao phát biểu: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”.
Ý kiến nêu trên khẳng định yêu cầu hết sức quan trọng đối với tác phẩm văn chương và các tác phẩm nghệ thuật. Người nghệ sĩ ở đây phải sáng tạo, tìm tòi và phát hiện ra những cái mới.
Đây là ý kiến hoàn toàn đúng, phản ánh bản chất của nghệ thuật, đã được nhiều người thừa nhận và khẳng định theo những cách diễn đạt khác nhau. Ở đây, Nam Cao đã diễn đạt điều đó một cách ngắn gọn, hàm xúc và giàu hình ảnh. Soi tỏ vào các sáng tác của Nam Cao có thể thấy rất rõ vấn đề này.
Ví dụ: Trong các sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám ở đề tài người nông dân. Đây là đề tài không phải mới mẻ đối với các nhà văn hiện thực, bởi trước Nam Cao đã có Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan... Nhưng Nam Cao không đi lại lối mòn của các nhà văn trước đó, mà ông đi sâu vào việc khá phá quá trình con người bị tha hóa, bị đè nén trở thành những tên lưu manh hóa. Từ đó ông đặt ra các vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân sinh.
Câu 8 (trang 204 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
   - Tình yêu của Rô - mê - ô và Giu - li - ét diễn ra trong hoàn cảnh hai dòng họ có mối hận thù truyền kiếp. Tính chất hận thù của hai dòng họ được phản ánh trong lời thoại của Rô-mê - ô ba lần và Giu - li - ét năm lần.
   - Nỗi ám ảnh về hận thù giữa hai dòng họ xuất hiện ở Giu - li - et nhiều hơn, nhưng thái độ của Rô - mê - ô thì quyết liệt hơn, vì tình yêu chàng sẵn sàng từ bỏ cả dòng học của mình để đến với Giu - li - et.
   - Cả hai đều ý thức được sự hận thù nhưng tình yêu của họ không hề xung đột với sự hận thù mà họ cùng muốn vượt qua tất cả, vượt qua sự hận thù để đến với nhau.
Tham khảo các bài Soạn văn 11 khác:
Học Kì I:

Soạn bài: Tình yêu và thù hận (Trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét)

I. Vài nét về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả
   Sếch-xpia (1564 - 1616) là nhà soạn kịch Anh nổi tiếng cuối thời đại Phục hưng ở Tây Âu. Quê ông là thị trấn Xtơ - rét - phớt ôn Ê - vơn, miền tây nam nước Anh. Cha ông là một thương gia. Sêch - xpia sớm phải vất vả kiếm sống. Từ một chân giữ ngựa ở rạp hát đến người nhắc vở kịch rồi diễn viên và cuối cùng trở thành nhà viết kịch nổi tiếng.

   Sếch-xpia để lại 37 vở kịch bao gồm cả ba thể loại: kịch lịch sử (Vua Hen-ri VI, Vua Giôn,...); hài kịch (Chàng thương gia thành Vơ-ni-dơ, Đêm thứ mười hai,...); bi kịch (Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Vua Lia, Hăm-let,...). Ông còn viết truyện thơ và làm thơ.
2. Tác phẩm
   Rô-mê-ô và Giu-li-et là vở kịch nổi tiếng đầu tiên của Sếch-xpia, được viết vào khoảng những năm 1594 – 1595, gồm 5 hồi bằng thơ xen lẫn văn xuôi, dựa trên câu chuyện có thật về mối hận thù giữa hai dòng họ Môn - ta - ghiu và Ca - piu - let, tại Vê - rô - na.
Tóm tắt vở kịch
   Ở thành Vê - rô - na nước Ý có hai dòng họ phong kiến vốn có mối thù truyền kiếp với nhau là Mông - te - ghiu và Ca - piu - let. Chàng Rô-mê-ô là con trai họ Mông - ta - ghiu yêu Giu-li-et, con gái họ Ca - piu - let. Họ là một đôi trai tài gái sắc. Hai người làm lễ thành hôn thầm kín. Nhưng cùng trong ngày hôm đó, do một cuộc cãi lộn, Rô-mê-ô đâm chết Ti - bân, anh họ Giu-li-et và bị kết tội biệt xứ. Gia đình Giu - li – et ép nàng phải lấy bá tước Pa - rix. Nàng định tự sát, nhưng được tu sĩ Lô - rân giúp kế tránh cuộc hôn nhân đó: tu sĩ cho nàng một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết; sau khi gia đình đặt thi thể nàng vào hầm mộ, tu sĩ sẽ báo cho Rô-mê-ô đến cứu nàng trốn khỏi thành Vê - rô - na. Nhưng người của tu sĩ chưa kịp báo tin thì người nhà Môn - ta - ghiu lại đến trước báo cho Rô-mê-ô tin nàng Giu-li-et đã tự sát. Rô-mê-ô tưởng nàng đã chết, nên đã tự sát bên nàng. Giu-li-et tỉnh dậy, cũng tự sát theo. Và trước cái chết của hai người, hai họ đã quên mối thù truyền kiếp.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 201 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
   - Sáu lời thoại đầu (từ lời thoại 1 đến lời thoại 7) là những lời độc thoại. Đó là những “tiếng lòng” của nhân vật nhưng lại có định hướng đối tượng, có tính đối thoại nên rất sinh động.
Ví dụ những lời độc thoại của Rô-mê-ô khi thì giống như đang nói với Giu-li-et “Vầng dương tươi đẹp ơi...”; Hỡi nàng tiên lộng lẫy hãy nói nữa đi...”, lúc thì như đối thoại với chính mình “Kìa! Nàng tì má lên bàn tay...”
   - Mười lời thoại còn lại (từ lời thoại 8 đến lời thoại 16) mang hình thức đối thoại, tức là các lời thoại ấy hướng vào nhau, các nhân vật nói cho nhau nghe, mang tính chất hỏi đáp.
Câu 2 (trang 201 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Tình yêu của Rô - mê - ô và Giu-li-et diễn ra trong hai hoàn cảnh dòng họ có mối thù hận truyền kiếp. Tính chất thù hận của hai dòng họ được phản ánh trong lời thoại của Giu-li-et đến năm lần. Cả hai đều nhận thức được cái tình cảnh oái oăm, cái hoàn cảnh thù địch mà họ bị đặt vào.
Sự nhận thức đó dẫn đến lời độc thoại của Giu-li-et như là một sự băn khoăn day dứt, một sự dằn vặt thể hện tâm trạng rối bời trước hoàn cảnh éo le “Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi...” . Trong khi đó, tâm trạng của Rô-mê-ô đơn giản hơn nhiều: Nàng tiên lộng lẫy, nàng tiên kiều diễm, nàng tiên yêu quý của tôi ơi, đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu, tôi thù ghét cái tên tôi, vì nó là kẻ thù của em... Chàng đã yêu, đã được đáp lại tình yêu và đi tới dứt khoát khẳng định tình yêu, sẵn sàng từ bỏ dòng họ, từ bỏ tên họ mình.
Câu 3 (trang 201 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Đây là lời thoại dài nhất và là lời thoại độc thoại nội tâm của nhân vật. Lời thoại được viết rất trau chuốt với nhiều hình ảnh đẹp, nhiều liên tưởng độc đáo, thú vị, những so sánh bất ngờ, táo bạo. Tất cả nhằm bộc lộ tâm trạng yêu đương nồng cháy, đam mê, ngỡ như không có gì cản được của Rô-mê-ô khi trèo tường đến bên dưới phòng ngủ của Giu - li - ét.
Khi nhìn thấy Giu-li-et xuất hiện bên cửa sổ, Rô-mê-ô choáng ngợp. Chàng so sánh nàng với chị Hằng rồi phủ định, so sánh nàng với vầng dương. Sau đó chàng tập trung miêu tả vẻ đẹp của đôi mắt. Trời đêm nên chàng nghĩ ngay đến những ngôi sao và có liên tưởng độc đáo “Chẳng qua là hai ngôi sao đẹp nhất ... chờ đến lúc sao về”. Sau đôi mắt, chàng lại tập trung ca ngợi gò má rực rỡ của người yêu, chàng thốt lên rất tự nhiên “Kìa, nàng tì má lên bàn tay...”.
→ Đây là tâm trạng của chàng trai đang chìm đắm trong tình yêu.
Câu 4 (trang 201 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Diễn biến tâm trang của Giu-li-et rất phức tạp, song các lời thoại của Giu-li-et vẫn thể hiện một tình cảm mãnh liệt. Các lời thoại 4 và 6 là những lời thổ lộ tình yêu với chính mình và nàng đi đến khẳng định: “Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi...”. Cách đặt vấn đề của Giu-li-et rất hồn nhiên, tha thiết. Nàng tự chất vấn mình, rồi lại tự tìm cách trả lời: “Cái tên nó có nghĩa gì đâu? Rồi lại tự đề xuất các giải pháp: “Chàng hãy từ bỏ tên họ đi”. Lời thoại thứ 8, lời của Giu-li-et cho thấy sự bất ngờ của nàng khi biết có người đang nhìn mình, đang thổ lộ với mình. Và khi biết đó là Rô-mê-ô thì tâm trạng nàng trở nên phấn chấn. Song nỗi lo sợ về mối hận thù giữa hai dòng họ lại lóe lên trong đầu nàng: “Chẳng phải anh Rô-mê-ô, và là nhà họ Môn - ta - ghiu đấy ư?. Sau đó Rô-mê-ô khẳng định và quyết tâm về tình cảm dành cho nàng nhưng nàng vẫn băn khoăn không biết Rô-mê-ô có yêu mình thật lòng không? Sau đó nàng lại nghĩ tới dòng họ mình, lo sợ Rô-mê-ô sẽ gặp nguy hiểm: “Họ mà bắt gặp anh, họ sẽ giết anh”; “ Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh ở đây”.
→ Diễn biến nội tâm của Giu-li-et phong phú và phức tạp hơn Rô-mê-ô rất nhiều nhưng nó hoàn toàn phù hợp với tâm lí của người con gái đang yêu.
Câu 5 (trang 201 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Vấn đề “tình yêu và thù hận” đã được giải quyết qua mười sáu lời thoại này. Bởi tình yêu không xung đột với thù hận, mà chỉ diễn ra trên nền thù hận, thù hận bị đẩy lùi, chỉ còn lại tình cảm của con người. Đối với Rô-mê-ô, chàng đã gặp Giu-li-et, đã có được tình yêu của nàng và sẵn sàng là tất cả vì tình yêu ấy. Còn đối với Giu - li – et, nàng đã hiểu và cảm nhận được tình cảm chân thật dành cho mình.

Luyện tập

Câu 1 (trang 201 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):
Nhận xét: “Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người” cần được hiểu một cách thấu đáo.
   - Tình yêu có sức mạnh kết nối con người lại với nhau, xóa đi mọi thành kiến lạc hậu hay hận thù chia rẽ con người. Tình yêu làm con người được kết nối lại.
   - Phân tích và chứng minh câu nói trên qua đoạn trích Tình yêu và thù hận. Phân tích tình yêu say đắm của hai nhân vật qua diễn biến câu chuyện và qua các lời thoại.
Tham khảo các bài Soạn văn 11 khác:
Học Kì I:

TDK

{facebook#https://www.facebook.com/TTTPUS} {twitter#https://twitter.com/pldinhkhiem} {google-plus#https://plus.google.com/110765780685737079983?hl=vi} {youtube#https://www.youtube.com/channel/UC15FfWuEkvpbESRDj2S718g}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget